Dự án đầu tư khu nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch trải nghiệm Phú Quốc

du lịch nghỉ dưỡng, du lịch rừng, du lịch sinh thái, lập dự án, lập dự án đầu tư, viết dự án

I. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay, du lịch nông nghiệp sinh thái đang dần trở thành một “hướng đi mới”, bên cạnh các loại hình du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, khám phá… Việt Nam nói chung cũng đã có một số mô hình du lịch nông nghiệp. Tuy nhiên, số lượng các trang trại mang tính giáo dục, phục vụ cho hoạt động trải nghiệm của du khách còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi nhiều hơn thế.

Phú Quốc là một huyện có thế mạnh về phát triển du lịch sinh thái, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam, là địa phương có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch trải nghiệm còn rất hạn chế trên địa bàn. Đây là lợi thế để có thể thu hút khách du lịch muốn có trải nghiệm “làm nông dân”; cùng với việc chiểm ngưỡng, check in vườn tiêu đặc sắc của trang trại.

Những năm trước, lượng hạt tiêu Phú Quốc xuất khẩu mỗi năm từ 3.000 đến 4.000 tấn. Nhưng khoảng hơn 5 năm trở lại đây, diện tích trồng hồ tiêu Phú Quốc giảm hơn 50%. Bên cạnh vườn tiêu bị thu hẹp, hiện nay giá tiêu trên thị trường lại giảm, khiến nông dân ở đây càng không mặn mà với cây tiêu.

Nơi trồng tiêu nhiều nhất Phú Quốc tập trung ở hai xã Cửa Dương và xã Gành Dầu, còn lại sáu xã và hai thị trấn khác đều có trồng tiêu rải rác.

So với hồ tiêu được trồng ở những địa phương khác, Phú Quốc có loại hồ tiêu nổi tiếng với vị cay nồng và mùi thơm đậm hơn hẳn. Các vườn tiêu tại Phú Quốc được đánh giá là tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch, góp phần nâng cao dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm du lịch của đảo. Chính vì vậy việc bảo tồn và phát triển vườn tiêu là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

 

Ngoài ra, Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong đó có cây hồ tiêu Phú Quốc là xu thế phát triển nhằm tạo ra những đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở chuyển nhanh nền nông nghiệp nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, Quốc hội đã ban hành Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày 13/11/2008 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 04/5/2015 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC) đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Nhưng từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng năng suất trong nông nghiệp nước ta đã chậm lại và chậm hơn so với hầu hết các nước cùng trình độ phát triển trong khu vực. Nếu so sánh với Hàn Quốc, Trung Quốc, tốc độ tăng năng suất trong nông nghiệp nước ta chưa bằng một nửa của họ. Có sự chênh lệch lớn như vậy là bởi sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến nông – lâm – thủy sản chưa cao và đang phải đối mặt với những thách thức lớn:

– Dân số tăng, nhu cầu về nông sản thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Dân số nước ta hiện nay trên 90 triệu người, dự kiến đến năm 2020 sẽ vào khoảng 100 triệu người. Do dân số tăng, hàng năm nước ta có thêm ít nhất 0,9 triệu lao động tăng thêm ở khu vực nông nghiệp và nông thôn, trong khi quỹ đất nông nghiệp tiếp tục suy giảm do công nghiệp hóa và đô thị hóa.

– Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra cũng ảnh hưởng lớn đến diện tích đất nông nghiệp. Theo các nhà khoa học, nếu nước biển dâng lên 1m thì 9 tỉnh Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Tiền Giang và Cần Thơ sẽ bị ngập từ 24,7% đến 50,1% diện tích trên tổng số 11.475 km2.

– Do dân số tăng nên nhu cầu về lương thực, thực phẩm và cây hoa cảnh của nước ta sẽ tăng lên ít nhất 11% – 12% so với hiện nay nên đòi hỏi nông nghiệp không chỉ tăng về số lượng mà cả là chất lượng. Nhu cầu thực phẩm sạch cũng “nóng” lên hàng ngày. Hàng nông sản làm sao phải ngon, bổ, rẻ, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Diện tích đất bị thu hẹp do đô thị hóa, do biến đổi khí hậu, sức cạnh tranh chất lượng hàng nông – lâm – thủy sản ngày càng quyết liệt, đó quả là những thách thức, sức ép rất lớn với nông nghiệp Việt Nam. Nếu cứ sản xuất manh mún, không đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi… và không phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì nông nghiệp nước ta không tăng trưởng mà còn thụt lùi xa hơn nữa với khu vực và thế giới. Vì thế đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Israel… là lời giải đúng nhất của nông nghiệp nước nhà.

“Nông nghiệp thông minh” hay còn gọi là “Nông nghiệp công nghệ cao” là nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, với sự tích hợp của nhiều ngành từ công nghệ cơ khí, điện tử, tự động hóa, hóa học, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, khí tượng, tài chính – quản trị kinh doanh, chế biến, bảo quản… để làm ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng và hiệu quả cao.

Tuy nhiên, từ những nền tảng ban đầu đó đến việc xây dựng dự án Bảo tồn và phát triển tiêu Phú Quốc kết hợp du lịch trải nghiệmthành khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và là địa chỉ du lịch sinh thái một cách đa năng thì việc đầu tư xây dựng dự án là yêu cầu cần thiết để phát triển trong tình hình hiện nay.

II. Mục tiêu dự án.

Góp phần vào sự thành công trong việc xây dựng mô hình nông nghiệp tiên tiến, hiện đại.

Góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; giải quyết việc làm, trở thành địa điểm du lịch nông nghiệp trải nghiệm hấp dẫn của Phú Quốc; đầu mối tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng tiêu và nấm dược liệu có giá trị kinh tế cao, hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho các thành viên, hộ nông dân trên đảo có nhu cầu liên kết tiêu thụ sản phẩm với dự án.

  • Nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua tăng cường năng lực sản xuất, điều hành và hoạt động kinh doanh.
  • Tổ chức dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với du lịch sinh thái nhằm gia tăng giá trị sản xuất.
  • Hướng đến mô hình du lịch trải nghiệm với tiêu chí du khách được tham gia tất cả các khâu từ sản xuất đến hưởng thụ thành quả từ hoạt động, xây dựng thương hiệu thông qua du lịch và trải nghiệm thực tế, nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Dự án tổ chức sản xuất các sản phẩm chính như: Bảo tồn và phát triển cây tiêu Phú Quốc và sản xuất giống nấm, linh chi đỏ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
  • Đảm bảo đủ năng lực để tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu của thị trường.
  • Mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng uy tín của sản phẩm trên thị trường du lịch huyện nhà.

III. Quy mô sản xuất của dự án.

Với sự đầu tư một cách đồng bộ, dự án Nông trại giáo dục – trải nghiệm được quy hoạch thành 3 khu vui chơi, 6 khu chức năng và 1 khu nhà ở cán bộ công nhân viên. Cụ thể như sau:

1.     Các khu dịch vụ chức năng. Gồm 6 phân khu:

  • Phân khu nhà lễ tân: Điểm bán vé, check in, giới thiệu các sản phẩm của nông trại.
  • Phân khu nhà hàng: Phục vụ ăn uống, tiệc nướng, tiệc buffet, đặc sản.
  • Phân khu nhà sàn hoạt động cộng đồng: Gồm 1 nhà sàn chính và quy hoạch 1 nhà tre phục vụ nhóm bạn, cơ quan, tổ chức nghỉ ngơi.
  • Phân khu lưu trú: Dự án xây dựng các homestay – Bungalow, với sức chứa khoảng 80 – 100 người.
  • Phân khu sân khấu trung tâm: Sân khấu tròn tổ chức các hoạt động ngoài trời và đài hoa cảnh quan.
  • Khu học sinh: gồm khu nhà nghỉ tạm, có sức chứa 200 – 300 em – du khách đoàn, khu WC riêng và sân chơi ngoài trời, phục vụ các trò chơi dân gian, lễ hội cộng đồng,…

2.     Các khu bảo tồn tiêu phú quốc và sản xuất nấm linh chi đỏ, kết hợp vui chơi trải nghiệm.

  • Khu sản xuất nấm linh chi đỏ.
  • Khu bảo tồn và phát triển cây tiêu Phú Quốc. Giúp du khách biết đến những điều thú vị, nguồn gốc và kỹ thuật canh tác cây tiêu trên đảo.

IV. Tổng vốn đầu tư của dự án.

STT Nội dung Thành tiền (1.000 đồng)
I Xây dựng 96.539.600
II Thiết bị 18.206.000
III Chi phí quản lý dự án 2.081.381
IV Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi khác 7.646.405
V Dự phòng phí 12.447.339
Tổng cộng  136.920.724

V. Hiệu quả về mặt kinh tế của dự án.

1.     Tổng mức đầu tư – nguồn vốn.

Tổng mức đầu tư: 136.920.724.000 đồng. Trong đó:

  • Vốn tự có : 45.124.244.000 đồng.
  • Vốn vay tín dụng : 91.796.480.000 đồng.

2.     Phương án vay.

  • Số tiền : 91.796.480.000 đồng.
  • Thời hạn : 10 năm (120 tháng).
  • Ân hạn : 1 năm.
  • Lãi suất, phí : khách hàng đề nghị được hưởng lãi suất 10%/năm.
  • Tài sản bảo đảm tín dụng: thế chấp toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay.

3.     Các thông số tài chính của dự án.

3.1. Kế hoạch hoàn trả vốn vay.

Kết thúc năm đầu tiên phải tiến hành trả lãi vay giải ngân năm nhất và từ năm thứ 2 trả nợ gốc thời gian trả nợ trong vòng 10 năm của dự án, trung bình mỗi năm trả 14,6 tỷ đồng. Theo phân tích khả năng trả nợ của dự án (phụ lục tính toán kèm theo) cho thấy, khả năng trả được nợ là rất cao, trung bình dự án có khả năng trả được nợ, trung bình khoảng trên 159% trả được nợ.

3.2. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.

Khả năng hoàn vốn giản đơn: Dự án sẽ sử dụng nguồn thu nhập sau thuế và khấu hao cơ bản của dự án để hoàn trả vốn vay.

Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 3,62 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 3,62 đồng thu nhập. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.

Thời gian hoàn vốn giản đơn (T): Theo (Bảng phụ lục tính toán) ta nhận thấy đến năm thứ 8 đã thu hồi được vốn và có dư, do đó cần xác định số tháng của năm thứ 8 để xác định được thời gian hoàn vốn chính xác.

Số tháng = Số vốn đầu tư còn phải thu hồi/thu nhập bình quân năm có dư.

Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 7 năm 9 tháng kể từ ngày hoạt động.

3.3. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 1,65 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 1,65 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Tp) (hệ số chiết khấu 8,68%).

Theo bảng phân tích cho thấy đến năm thứ 11 đã hoàn được vốn và có dư. Do đó ta cần xác định số tháng cần thiết của năm thứ 11.

Kết quả tính toán: Tp = 10 năm 4 tháng tính từ ngày hoạt động.

3.4. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).

Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 85.930.746.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 20 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 85.930.746.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.

3.5. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).

Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 15,97% > 8,68% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời cao.

TRÊN ĐÂY LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN. QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU CẦN TƯ VẤN CHI TIẾT. XIN VUI LÒNG GỌI VÀO SỐ 0908 551 477 ĐỂ ĐƯỢC LẬP DỰ ÁN Á CHÂU TƯ VẤN CỤ THỂ.