QH bố trí dân cư đến năm 2020 tỉnh Vĩnh Long

I. Sự cần thiết phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch.

Qua nghiên cứu cho thấy có các lý do chính cần phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long như sau:

– Thứ nhất: “Quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2015” đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2393/QĐ-UBND ngày 28/11/2006 với các nội dung chính sau đây: Đến năm 2010, bố trí sắp xếp cho 2.780 hộ dân, xây dựng 11 cụm dân cư nông thôn, … và giai đoạn 2011 – 2015 bố trí sắp xếp lại 3.070 hộ dân, xây dựng 16 cụm dân cư. Tổng số vốn đầu tư 412,48 tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2007 – 2010: 203,638 tỷ đồng. Nhưng căn cứ báo cáo số 31/BC-SNNPTNT ngày 03/3/2011, tính đến 31/12/2011 chỉ triển khai 02 khu tái định cư xã Tân An Hội huyện Mang Thít và khu tái định cư xã Trung Thành huyện Vũng Liêm với số vốn ngân sách Trung ương: 4,0 tỷ đồng. Hiện nay, 02 dự án này đã dừng thực hiện do chưa phân khai được nguồn vốn và cụm dân cư xã Trung Thành lại trùng với chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ giai đoạn II. Như vậy, toàn bộ các nội dung quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 – 2010 chưa được triển khai thực hiện nên cần phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch cho sát với thực tế.

– Thứ hai: Nghiên cứu quy hoạch đã được duyệt có các đối tượng (5.850 hộ dân) được bố trí vào 27 cụm dân cư được chia ra: 1.720 hộ sống ở vùng bị thiên tai sạt lở ven sông, 2.840 hộ sống phân tán, 470 hộ khó khăn do thiếu đất sản xuất, 820 hộ trong vùng giải tỏa các công trình xây dựng cơ bản.

Nay, điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư phải tuân theo quy định tại Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020. Đối chiếu 04 đối tượng của quy hoạch bố trí dân cư đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long phê duyệt tại Quyết định số 2393/QĐ-UBND với phạm vi đối tượng quy định tại Quyết định số 1776/QĐ-TTg thì chỉ còn 01 đối tượng phù hợp là số hộ sống tại vùng thiên tai (Sạt lở bờ sông, sạt lở đất, sụt lún đất, Vùng ngập lũ, lốc xoáy), 03 đối tượng còn lại nằm ngoài phạm vi theo quy định nên bị loại. Hơn nữa, thời điểm (tháng 7 năm 2006) thống kê số hộ để lập quy hoạch xác định 1.720 hộ ở vùng thiên tai, sau gần 06 năm (2007 – 2012) số lượng hộ kể trên đã không còn sát với thực tế nữa. Do đó, cần điều tra, thống kê xác minh lại để có số liệu chính xác trong nội dung điều chỉnh quy hoạch.

– Thứ ba: Thực tế quy hoạch bố trí dân cư thực hiện theo Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg đã có một số cụm dự kiến xây dựng trùng với Chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ giai đoạn II đang triển khai trên địa bàn tỉnh.

Tại 26 xã thuộc 06 huyện đang triển khai lập đề án xây dựng nông thôn mới, trong đó có nội dung quy hoạch bố trí dân cư và hệ thống các cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Như vậy, quy hoạch bố trí dân cư – chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ – quy hoạch bố trí dân cư và cơ sở hạ tầng trong đề án xây dựng nông thôn mới cần có sự phân chia hết sức cụ thể, đảm bảo tính thống nhất trên phạm vi hành chính xã. Vậy nên cần phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long theo đúng các nội dung của Quyết định số 1776/QĐ-TTg.

– Thứ tư: Đến năm 2012, số lượng các hộ dân thuộc đối tượng hưởng lợi của Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg giảm đáng kể so với năm 2007, số cụm dân cư còn ít hơn do loại bỏ các cụm trùng với chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ giai đoạn II. Đặc biệt là phải gắn kết với bố trí quy hoạch dân cư trong đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã. Đồng thời, đơn giá đầu tư năm 2012 cũng hoàn toàn khác năm 2007 nên khái toán vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn đầu tư và tiến độ thực hiện đầu tư theo Quyết định số 2393/QĐ-UBND không còn phù hợp với thực tế nữa. Chính vì vậy, cần phải điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư.

– Thứ năm: Triển khai thực hiện các văn bản pháp quy như:

+ Văn bản số 62/BNN-KTHT ngày 10/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn rà soát, bổ sung quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020, theo công văn số 9119/VPCP ngày 16/12/2010 của Văn phòng Chính phủ, trong đó yêu cầu “Báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch bố trí dân cư của các tỉnh phải gửi về Bộ Nông nghiệp – PTNT chậm nhất vào ngày 30/3/2011 để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ”.

+ Thực hiện văn bản số 62/BNN-KTHT, Chi cục Phát triển nông thôn đã có tờ trình số 25/TTr-CC.PTNT ngày 01/11/2011 về việc xin rà soát bổ sung quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020, tiếp đó Sở Nông nghiệp – PTNT thống nhất gửi tờ trình số 133/TTr-SNN&PTNT ngày 15/11/2011xin chủ trương “Điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020”.

+ Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã chấp thuận nội dung tờ trình số 133/TTr-SNN&PTNT bằng văn bản số 3257/UBND-KTN ngày 28/11/2011 ghi rõ: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long có ý kiến như sau: Thống nhất chủ trương điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến nam 2020”.

Trên đây là 05 lý do chính chỉ rõ yêu cầu cấp thiết phải tiến hành điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư.

II. Mục đích và yêu cầu của dự án điều chỉnh quy hoạch.

1. Mục đích.

  • Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch bố trí ổn định dân cư giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến 2015 theo Quyết định số 2393/QĐ-UBND ngày 28/11/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long và Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Rà soát, xác định nhu cầu bố trí ổn định dân cư theo các đối tượng tại Điều 2 Quyết định số 78/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đối với tỉnh Vĩnh Long chỉ có 01 đối tượng là hộ dân sống ở các vùng thiên tai (ngập lũ, sạt lở ven sông). Song, phải tránh trùng với chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ giai đoạn 2 (2008 – 2010).
  • Đề xuất phương án quy hoạch và các giải pháp tổ chức thực hiện bố trí ổn định dân cư giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020.

2. Yêu cầu.

  • Đánh giá đầy đủ, đúng và toàn diện quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện quy hoạch bố trí ổn định dân cư của địa phương.
  • Phối hợp với Ban chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ tỉnh Vĩnh Long, với Ủy ban nhân dân xã, huyện xác định cụ thể từng điểm dự kiến bố trí dân cư, số xã có hộ dân thuộc đối tượng cần bố trí lại là hộ dân cư sống ở vùng nguy cơ cao về thiên tai (ngập lũ – sạt lở ven sông) để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
  • Đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch bố trí ổn định dân cư phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới và các quy hoạch có liên quan, lựa chọn hình thức bố trí (cụm, tuyến,…) và sắp xếp thứ tự ưu tiên phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước theo kế hoạch hàng năm, trọng tâm là các dự án bố trí ổn định dân cư vùng thiên tai cấp bách.

III. MỤC TIÊU.

1. Mục tiêu chung.

Hoàn thành cơ bản bố trí dân cư trên địa bàn tỉnh theo đúng các đối tượng vào năm 2020, các hộ có nơi ở ổn định theo quy hoạch, để phát triển sản xuất, kinh doanh tăng thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo bền vững. Giảm thiệt hại do thiên tai, củng cố vững chắc an ninh quốc phòng và xây dựng nông thôn mới.

2. Mục tiêu cụ thể.

Đến năm 2020 bố trí ổn định cho 3.500 hộ.

Trong đó:

  • 450 hộ sống phân tán trong khu vực nội đồng. Bố trí theo hình thức tập trung.
  • 168 hộ có nguy cơ cao do sạt lở bờ sông. Bố trí theo hình thức xen ghép và tập trung;
  • 795 hộ có nguy cơ do sạt lở bờ sông và 2.087 hộ ảnh hưởng do biến đổi khí hậu (nước biển dâng). Bố trí theo hình thức ổn định tại chổ.
  • Giai đoạn 2014 – 2015 bố trí ổn định 168 hộ có nguy cơ cao do sạt lở bờ sông.
  • Giai đoạn từ năm 2016 – 2020 bố trí ổn định cho 3.332 hộ.
  • Gắn kết với chương trình xây dựng nông thôn mới. về các chỉ tiêu cụ thể như sau:
  • Xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới;
  • Phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, ngành nghề – dịch vụ tạo việc làm thu nhập ổn định cho các hộ.
  • Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo ở vùng dự án bố trí dân cư từ 1,5% – 2%/năm; tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt từ 90% – 95%, sử dụng điện đạt 100%; tỷ lệ hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố đạt từ 70% – 80%.

IV. Quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2013–2015 và Quy hoạch đến năm 2020.

Phương án này, quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2013 – 2015 và quy hoạch đến năm 2020 căn cứ vào số liệu thống kê từ các địa phương với tổng số hộ cần bố trí là 1.413 hộ thuộc 2 đối tượng chính là:

  • Các hộ sống phân tán trong khu vực nội đồng: 450 hộ.
  • Các hộ sạt lở bờ sông: 963 hộ.

Bảng 4.2: Tổng hợp số hộ dân cần bố trí ổn định dân cư đến năm 2020

TT ĐỊA ĐIỂM Tổng
số hộ
Chòi đồng (hộ) Sạt lở bờ sông (hộ)
Nguy cơ
cao
Có nguy cơ
1 Huyện Trà Ôn 451 450 1
2 Huyện Vũng Liêm 10   1 9
3 Huyện Tam Bình 205   8 197
4 Huyện Long Hồ 36   14 22
5 Huyện Bình Tân 128   6 122
6 Thị Xã Bình Minh 448   105 343
7 Huyện Mang Thít 13     13
8 Thành Phố Vĩnh Long 122   33 89
  TỔNG 1.413 450 168 795

V. Kết luận.

  1. Rà soát, đánh giá kết quả tổ chức triển khai thực hiện 2393/QĐ-UBND ngày 28/11/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc “phê duyệt quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2015 tỉnh Vĩnh Long” cho thấy:
  • Toàn tỉnh mới chỉ triển khai thực hiện chuẩn bị đầu tư 02 khu tái định cư (khu tái định cư xã Tân An Hội thuộc huyện Mang Thít và khu tái định cư xã Trung Thành thuộc huyện Vũng Liêm) nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện tại 02 dự án này đã được địa phương đề nghị dừng triển khai thực hiện (được UBND tỉnh chấp nhận tại công văn số 1202/UBND-KTTH ngày 11/5/2012).
  • Khối lượng đầu tư các công trình tại 27 cụm dân cư và bố trí nơi ở cho 5.850 hộ dân (29.250 khẩu) thuộc đối tượng hưởng lợi từ dự án hoàn toàn chưa được thực hiện. Nghĩa là thực hiện quy hoạch mới chỉ dừng ở bước chuẩn bị đầu tư nhưng chưa đầy đủ.
  • Lý do chính dẫn đến quy hoạch bố trí dân cư chậm triển khai thực hiện thuộc về các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là khó khăn về nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, đồng thời một số cụm, tuyến dân cư được quy hoạch lại trùng với chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2 (2008 – 2010),… Chính vì vậy trong quy hoạch điều chỉnh không đặt nặng vấn đề di dời hộ dân vào các cụm, tuyến dân cư mà là chủ động trong việc hỗ trợ kinh phí để người dân bị ảnh hưởng sửa chữa nhà cửa ổn định theo hình thức tại chổ là chủ yếu, chỉ những hộ chòi đồng và hộ có nguy cơ cao sạt lở bờ sông mới phải di dời vào tuyến dân cư theo quy hoạch điều chỉnh. Đây là quan điểm bố trí phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và có tính khả thi cao hơn so với quy hoạch cũ.
  1. Việc điều chỉnh quy hoạch bố trí ổn định dân cư tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 là cần thiết, trước mắt giai đoạn 2014 – 2015, chúng ta cần tiến hành 2 dự án ưu tiên thực hiện là Dự án Đê bao cồn Lục Sĩ Thành và dự án Đê bao cồn xã Phú Thành – Huyện Trà Ôn.
  2. Quá trình phối hợp giữa cơ quan tư vấn – Chi cục PTNT – UBND các Huyện cùng với Ủy ban nhân dân các xã điều tra – thống kê số hộ dân cư thuộc đối tượng của quyết định số 1776/QĐ-TTg, tại thời điểm tháng 8/2013 là 3.500 hộ so với quy hoạch đã được duyệt năm 2006 là 5.850 hộ, giảm 2.350 hộ. Định mức các chính sách hỗ trợ của nhà nước cho mỗi hộ ở mức cao hơn. Mặt khác, hầu hết các huyện không còn nhu cầu xây dựng các cụm dân cư.
  3. Để báo cáo điều chỉnh, bổ sung quy hoạch bố trí dân cư tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2013 – 2015 và quy hoạch đến năm 2020 trở thành hiện thực rất cần có sự lãnh đạo – chỉ đạo của cả hệ thống chính trị từ tỉnh, huyện đến xã, trong đó đặc biệt quan trọng chính là UBND các huyện, thành phố có bố trí dân cư theo các đối tượng thuộc quyết định số 1776/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ.

TRÊN ĐÂY LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN. QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU CẦN TƯ VẤN CHI TIẾT. XIN VUI LÒNG GỌI VÀO SỐ 0908551477 ĐỂ ĐƯỢC LẬP DỰ ÁN Á CHÂU TƯ VẤN CỤ THỂ.

lapduan.net