Dự án nhà máy đốt rác phát điện nối lưới

Môi trường nước ta tiếp tục chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và mở rộng địa giới hành chính đô thị tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, dân số thành thị tăng nhanh. Cùng với đó, kinh tế phát triển, đời sống người dân tại các khu vực nông thôn cũng được cải thiện, nhu cầu sinh hoạt, tiêu thụ cũng gia tăng. Tất cả những vấn đề này bên cạnh việc đóng góp kinh phí cho nguồn ngân sách cũng đồng thời đưa một lượng lớn chất thải vào môi trường, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên và mất cân bằng sinh thái.

Sản xuất công nghiệp phát triển, nhưng tỷ lệ ứng dụng công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh còn khoảng cách khá xa so với các quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực. Trên thực tế, sự tăng trưởng kinh tế của nước ta cho đến nay vẫn còn dựa nhiều vào hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên và gắn liền với đó là sức ép ngày càng tăng lên đối với môi trường. Hoạt động sản xuất công nghiệp từ các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề…  song song với việc đóng góp cho phát triển kinh tế còn tiếp tục là những nguồn thải lớn, gây ô nhiễm môi trường nhiều khu vực. Trong những năm gần đây, sự phát triển của hoạt động công nghiệp, đặc biệt là việc hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế tập trung ở những vùng dễ bị tổn thương như vùng duyên hải, ven biển đang tiềm ẩn những nguy cơ không nhỏ về ô nhiễm, sự cố môi trường nếu việc quản lý và xả chất thải của các đối tượng này không được thực hiện nghiêm túc và giám sát chặt chẽ. Thậm chí, đã có những sự cố môi trường nghiêm trọng xảy ra, gây hậu quả lớn về ô nhiễm môi trường, tổn thương các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt và sinh kế của người dân.

Ngành xây dựng với các dự án xây dựng hạ tầng (đường giao thông, công trình xây dựng dân dụng…) sau một thời gian chững lại, hiện cũng đang có mức độ tăng trưởng khá cao, kéo theo đó phát thải một lượng lớn chất thải vào môi trường. Trong những năm qua, hệ thống giao thông đường bộ phát triển khá nhanh. Song song với đó, hoạt động phát triển cảng biển (hoạt động nạo vét luồng lạch, làm đê chắn sóng…) trong thời gian qua cũng làm gia tăng mối đe dọa đối với môi trường.

Ô nhiễm chất thải rắn (CTR) tiếp tục là một trong những vấn đề môi trường trọng điểm. Trên phạm vi toàn quốc, CTR phát sinh ngày càng gia tăng với tốc độ khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại. Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh là CTR sinh hoạt đô thị, 17% CTR từ hoạt động sản xuất công nghiệp (chất thải công nghiệp – CTCN); còn lại là CTR nông thôn, làng nghề và y tế.

Đối với khu vực đô thị, lượng CTR sinh hoạt phát sinh tiếp tục gia tăng và có xu hướng tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2018 – 2030. Ước tính, trong cả nước lượng phát sinh CTR sinh hoạt khoảng 63 nghìn tấn/ngày.

Đối với khu vực nông thôn, ước tính mỗi năm tại khu vực này phát sinh khoảng 7 triệu tấn CTR sinh hoạt, hơn 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất thải chăn nuôi. Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng cũng tạo sức ép lớn đối với môi trường khi thải ra lượng CTR lớn. Vấn đề quản lý CTR sinh hoạt khu vực nông thôn hiện nay đang là vấn đề nóng của các địa phương.

Đối với khu vực sản xuất công nghiệp, lượng CTR phát sinh xấp xỉ 4,7 triệu tấn chất thải mỗi năm.

Đối với CTR phát sinh từ hoạt động y tế, cùng với sự gia tăng giường bệnh điều trị, khối lượng CTR có chiều hướng ngày càng gia tăng. Ước tính năm 2015, lượng CTR y tế phát sinh là 600 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày.

Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại các đô thị khá cao (84 – 85%), tăng 3 – 4% so với giai đoạn trước. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn còn rất thấp (40%), chủ yếu được tiến hành ở các thị trấn, thị tứ. Cho đến nay, vấn đề phân loại rác tại nguồn vẫn chưa được triển khai mở rộng. CTR sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp lộ thiên hoặc lò đốt chất thải. Tỉnh Hải Dương đang trong quá trình đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư, số doanh nghiệp đầu tư dự kiến sẽ tăng lên rất nhiều trong thời gian tới kéo theo lượng lao động là người ngoài tỉnh đến làm việc tại Hải Dương cũng gia tăng. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp kết hợp với sự gia tăng dân số sẽ phát sinh khối lượng lớn rác thải sinh hoạt cần phải xử lý.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2050 và năm 2100 và dựa theo kịch bản phát thải cao căn cứ vào tài liệu điều tra của ADB năm 2010, dự báo 90% bãi chôn lấp chất thải hiện có của tỉnh có nguy cơ bị ngập. Các chất ô nhiễm từ bãi chôn lấp sẽ phát tán ra môi trường xung quanh.

Ngoài ra với tác nhân biến đổi khí hậu, mưa bão ngập lụt tăng cao sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống quản lý chất thải rắn gồm các khâu thu gom, vận chuyển, xử lý…

Để chung tay góp phần giải quyết vấn đề môi trường của Tỉnh, dự án tiến hành nghiên cứu đầu tư công nghệ đốt rác phát điện, với ưu điểm mang lại:

  • Đốt rác phát điện là công nghệ xử lý rác thải tiên tiến, đang phát triển mạnh ở các nước phát triển. Tại các nước phát triển, việc xử lý rác thải luôn phát triển theo hướng “tài nguyên hóa” nhằm tạo ra nhiều nguồn năng lượng và sản phẩm có ích từ rác thải;
  • Phương pháp chôn lấp truyền thống gây ra mối nguy hại rất lớn đối với bầu không khí, đất đai, nguồn nước và môi trường xung quanh. Công nghệ đốt rác phát điện có thể vô hại hóa rác thải do rác thải được đốt ở nhiệt độ cao, có thể đốt hầu hết các vật chất, bao gồm một số vật chất có hại. Ở nhiệt độ này, các chất điôxin/furan cũng bị phân hủy, không thể phát tán vào bầu không khí. Xét từ hiệu quả lâu dài và tiêu chí tổng hợp, lợi ích xã hội và kinh tế của việc xử lý rác thải theo “công nghệ xanh” đốt rác phát điện là rất lớn.
  • Lợi ích quan trọng đầu tiên dự án mang lại là lợi ích xã hội, đó là: giải quyết nhu cầu cấp bách về xử lý nguồn rác thải cho thành phố, giảm lượng rác thải, giảm ô nhiễm cho thành phố, tiết kiệm tối đa diện tích đất chôn lấp rác theo phương pháp truyền thống, từ đó cải thiện môi trường sống cho người dân thành phố và nâng cao cảnh quan đô thị. Ngoài ra, dự án còn tạo thêm cơ hội việc làm mới trong lĩnh vực môi trường, cơ hội tiếp cận công nghệ tiên tiến cho nguồn nhân lực trẻ của địa phương.
  • Về mặt lợi ích kinh tế: biến rác thành nguồn tài nguyên sản xuất ra điện và tổng hợp tái chế ra sản phẩm hữu ích cho cuộc sống. Dựa vào đặc điểm rác của thành phố, dự tính mỗi một tấn rác có thể sản xuất ra 300 – 400 kWh.

Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, đồng thời phát huy tối đa lợi thế của công nghệ để mang lại hiệu quả kinh tế, chung tay xây dựng một môi trường xanh, việc hình thành dự án là sự cần thiết và cấp bách hiện nay. Từ những vấn để trên Công ty Môi trường phối hợp với Công ty Cổ phần Lập dự án Á Châu  tiến hành nghiên cứu và lập dự án “Đốt rác phát điện”, trình các cơ quan, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư xem xét và chấp thuận phương án đầu tư, cũng như hỗ trợ chúng tôi về tài chính để dự án có thể sớm đi vào hoạt động.

I. Mục tiêu dự án.

  • Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh nhà máy xử lý và tái chế rác thải sinh hoạt với công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Xây dựng theo tiêu chuẩn công nghệ hiện đại. Hầu hết, quy trình xử lý rác đều được thực hiện bằng công nghệ tự động, khép kín, thân thiện với môi trường, nâng cao năng lực xử lý hiện có của Nhà máy từ 73.000 tấn/năm lên 182.500 tấn/năm. Đồng thời, tái chế ra năng lượng điện hoà lưới điện Quốc gia và các sản phẩm hữu ích cung cấp cho thị trường như: Gạch Block và phân hữu cơ vi sinh.

II. Quy mô sản xuất của dự án sau khi được đầu tư nâng cấp.

Với tổng công suất xử lý rác của nhà máy là 500 tấn/ngày để phát ra khoảng 120.000 – 160.000 kWh điện và các sản phẩm dầu phụ khác như dầu FO, phân vi sinh và gạch không nung.

III. Tổng vốn đầu tư và nguồn vốn của dự án.

STT Nội dung Thành tiền (1.000 đồng)
I Xây dựng 609.224.259
I.1 Hợp phần nhà máy đốt rác phát điện nối lưới 355.743.900
1 Nhà máy chính 240.960.000
2 Ống khói 1.050.000
3 Đường xe rác 333.900
4 Trạm bơm nước tổng hợp 5.736.000
5 Tháp làm mát 7.704.000
6 Nhà bơm dầu 1.150.000
7 Trạm cân 960.000
8 Nhà cân 140.000
9 Phòng bảo vệ 200.000
10 Trạm xử lý nước rỉ rác 28.500.000
11 Kho chứa tro bay tạm thời 4.800.000
12 Kho Acetylen 420.000
13 Cây xanh cảnh quan 270.000
14 Nhà ở cán bộ côn nhân viên 6.400.000
15 Căn tin 3.120.000
16 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 12.000.000
17 Hệ thống nối lưới 42.000.000
I.2 Hợp phần sản xuất phân hữu cơ vi sinh 36.466.000
1 Xưởng sản xuất 36.060.000
Xưởng sản xuất chính 10.500.000
Kho nguyên liệu 7.000.000
Kho thành phẩm 14.000.000
Bãi chứa và phơi nguyên liệu 4.560.000
2 Hạng mục phụ trợ 406.000
Nhà cơ khí 210.000
Nhà vệ sinh công nhân 196.000
I.3 Hợp phần sản xuất gạch không nung (gạch Block) 79.340.000
1 Văn phòng điều hành 700.000
2 Nhà bảo vệ khu vực 40.000
3 Nhà máy sản xuất 12.800.000
4 Kho chứa nguyên vật liệu 18.000.000
5 Kho chứa gạch 30.000.000
6 Kho thành phẩm 15.000.000
7 Sân phơi 2.800.000
I.4 Các hạng mục tổng thể 137.674.359
1 Hệ thống cấp điện tổng thể 40.000.000
2 Hệ thống công nghệ thông tin 350.000
3 Hệ thống cấp nước tổng thể 2.500.000
4 Khu xử lý nước thải 35.000.000
5 Hệ thống phòng cháy chữa cháy 15.000.000
6 Hệ thống thoát nước tổng thể 30.000.000
7 Hàng rào bảo vệ 6.138.832
8 Cây xanh cảnh quan 8.685.527
II Thiết bị 1.719.940.301
II.1 Hợp phần đốt rác phát điện nối lưới 1.636.768.301
1 Dây chuyền công nghệ đồng bộ 1.634.908.301
2 Chi phí thiết bị văn phòng quản lý vận hành 1.860.000
II.2 Hợp phần sản xuất phân hữu cơ vi sinh 71.850.000
1 Máy lên men siêu tốc 50 tấn trục ngang BW-50T 50.000.000
2 Dây chuyền máy sấy + máy vò viên 8.500.000
3 Dây chuyền trộn bột 1.500.000
4 Máy đóng gói 760.000
5 Cân lớn 250.000
6 Cân nhỏ 120.000
7 Máy móc khác 320.000
8 Máy vi sinh 5 tấn BU-5T 3.500.000
9 Xe xúc lật Kawasaki 3 khối 2.400.000
10 Xe xúc lật Kawasaki 1 khối 800.000
11 Xe nâng 350.000
12 Xe bán tải 1.200.000
13 Xe tải 5T 1.400.000
14 Máy phát điện dự phòng 450KVA 750.000
II.3 Hợp phần sản xuất gạch không nung (gạch Block) 11.322.000
1 Cụm cấp liệu 946.000
Phễu cấp liệu 138.000
Máy trộn 293.000
Si lô 60 tấn 288.000
Vít tải, chiều dài 6m 46.000
Phễu định lượng xi măng 31.000
Phễu định lượng nước 31.000
Tủ điện điều khiển trạm trộn tự động không kết nối máy tính, máy in 44.000
Cabin điều khiển 29.000
Dây điện đấu nối các thiết bị trong trạm trộn với nhau 6.000
Chi phí lắp đặt 40.000
2 Cụm Máy ép gạch 8.600.000
3 Cụm chuyển gạch ra 1.776.000
Khay nhựa PVC 1.200.000
Băng tải đai chuyển khay chứa gạch 150.000
Máy xếp chồng khay chứa gạch 350.000
Xe nâng tay thủy lực 2,5 tấn 76.000
III Chi phí quản lý dự án 24.618.981
IV Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi khác 103.708.021
1 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi  2.529.262
2 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi  7.275.788
3 Chi phí thiết kế bản vẽ thi công 10.097.204
4 Chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi  1.293.392
5 Chi phí thẩm tra thiết kế xây dựng 516.249
6 Chi phí thẩm tra dự toán 491.880
7 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu thi công xây dựng 398.340
8 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu mua sắm vật tư, TB  1.270.271
9 Chi phí giám sát thi công xây dựng  7.612.432
10 Chi phí giám sát lắp đặt thiết bị  5.667.404
11 Chi phí tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường 585.000
12 Chi phí đền bù đất thực hiện dự án 65.970.800
V Dự phòng phí 245.749.156
Tổng cộng  2.703.240.718

IV. Hiệu quả về mặt kinh tế của dự án.

  1. Kế hoạch hoàn trả vốn.

Kết thúc năm tư và từ năm thứ 5 dự án phải hoàn trả gốc thời gian hoàn trả trong vòng 26 năm của dự án, trung bình mỗi năm trả 98,5 tỷ đồng. Theo phân tích khả năng hoàn trả vốn vay ưu đãi của dự án (phụ lục tính toán kèm theo) cho thấy, khả năng trả hoàn được vốn từ quỹ an sinh xã hội là rất cao, trung bình dự án có khả năng hoàn trả được trên 238% trả được nợ.

  1. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.

Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 3,92 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 3,92 đồng thu nhập. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.

Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 15 năm 6 tháng kể từ ngày hoạt động.

  1. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 3,63 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 3,63 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.

Kết quả tính toán: Tp = 15 năm 9 tháng tính từ ngày hoạt động.

  1. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).

Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 7.082.023.492.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 20 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 7.082.023.492.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.

  1. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).

Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 17,67% > 9,31% như vậy đây là chỉ số tốt, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời cao.

TRÊN ĐÂY LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN. QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU CẦN TƯ VẤN CHI TIẾT. XIN VUI LÒNG GỌI VÀO SỐ 0908551477 ĐỂ ĐƯỢC LẬP DỰ ÁN Á CHÂU TƯ VẤN CỤ THỂ.

lapduan.net