Dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất cát nhân tạo

lập dự án xây dựng, mẫu lập dự án xây dựng, ACC lập dự án, logo ACC, lập dự án đầu tư xây dựng

I. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Việc sử dụng cát nhân tạo (hay còn gọi là cát nghiền) đang trở thành một xu hướng tất yếu khi mà nhiều công trình xây dựng có quy mô lớn, nhỏ đã sử dụng cát nhân tạo thay thế cát tự nhiên trước áp lực của giá thành cũng như vùng nguyên liệu khai thác cát tự nhiên ngày càng bị thu hẹp.

Mặc dù nhu cầu sử dụng cát cho xây dựng và san lấp rất lớn, nhưng sản lượng khai thác cát tự nhiên không còn nhiều, cộng với việc Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt rà soát, giám sát và xử lý triệt để các tổ chức, cá nhân khai thác cát lậu lại càng làm cho nguồn cung cát tự nhiên bị thu hẹp. Theo ông Phạm Văn Bắc – Vụ trưởng Vụ VLXD năm 2020 Việt Nam sẽ không còn cát phục vụ cho san lấp. Theo số liệu thống kê của Viện VLXD (Bộ Xây dựng), nhu cầu sử dụng cát xây dựng trên toàn quốc khoảng 130 triệu m3/năm, nhu cầu cát san lấp khoảng 2,1 – 2,3 tỷ m3 (2016 – 2022), trong khi trữ lượng cát phục vụ cho san lấp đến năm 2020 chỉ còn 2,1 tỷ m3.

Trong khi đó, việc sử dụng cát nhân tạo tại các công trình có tổng mức đầu tư lớn đã có từ nhiều năm nay trước sức ép của giá cát tự nhiên tăng cao khi cung đường vận chuyển xa, trong đó phải kể đến công trình thủy điện Sơn La, 95% bê tông của công trình này sử dụng cát nhân tạo. Và ngay từ những năm 2002 – 2003, Viện VLXD đã xây dựng quy hoạch cát nhân tạo trên toàn quốc, trên cơ sở tiềm năng khoáng sản tự nhiên của các tỉnh thành, vùng miền, trong đó chỉ rõ các tỉnh thành, vùng miền có tiềm năng phát triển sản xuất cát nhân tạo, cho thấy ngành Xây dựng đã sớm quan tâm đến việc phát triển cát nhân tạo.

Theo nhiều chuyên gia, trên thế giới hiện nay cũng chủ yếu sử dụng cát nhân tạo được nghiền từ đá. Cho nên, ở Việt Nam, không có lý do gì để mà không sử dụng cát nhân tạo. Ông Trần Bá Việt – nguyên Phó viện trưởng Viện KHCNXD cho biết, việc sử dụng cát nhân tạo là biện pháp căn cơ, lâu dài để giải quyết vấn nạn thiếu hụt nguồn cung cát tự nhiên. Ưu điểm của cát nghiền là thành phần hạt đồng đều, có thể chủ động điều chỉnh mô đun và tỷ lệ thành phần hạt theo từng cấp phối vật liệu cho các loại bê tông khác nhau (bê tông asphalt, bê tông xi măng, bê tông đầm lăn, bê tông mác cao đặc biệt…). Chỉ có nhược điểm duy nhất, do trọng lượng nặng dẫn đến độ linh động hạn chế, nên quá trình sử dụng cần có thêm phụ gia. Trên toàn quốc, sản phẩm cát nhân tạo đã được đầu tư, sử dụng ở nhiều vùng miền như: Vùng núi Sơn La, tỉnh Quảng Ninh sử dụng cát nhân tạo từ đá cát kết, các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình, Nghệ An, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu… đều có sự đầu tư lớn vào các dây chuyền sản xuất cát nghiền.

Việc sử dụng cát nhân tạo, dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế xây dựng, sẽ góp phần làm giảm thất thoát, lãng phí, tiết kiệm chi phí cho công trình trước tình hình biến động không ổn định của giá cát tự nhiên. Ông Lê Văn Cư – Viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, chi phí tài chính cho cát có ảnh hưởng không nhỏ đối với tổng chi phí đầu tư xây dựng công trình. Với công trình giao thông xử lý nền đất yếu và đắp nền cao, nếu giá cát tăng từ 100 – 200% thì chi phí của công trình tăng từ 17% trở lên. Với công trình dân dụng, khi giá cát tăng khoảng 100% thì chi phí cát tăng không lớn, khoảng 1,2 – 3,5%. Đối với dạng công trình hạ tầng, san nền nhiều, khi giá cát tăng 100 – 200% thì chi phí của công trình tăng khoảng 80 – 160%.

Chính vì vậy, để phát triển trong thời gian tới, với phương châm chung tay góp phần cung cấp sản phẩm vật liệu xây dựng đạt chất lượng cao cho ngành xây dựng tỉnh nhà.

II. Mục tiêu dự án.

  • Góp phần cung cấp sản phẩm cát bê tông chất lượng cao cho thị trường vật liệu xây dựng tỉnh nhà trong quá trình đô thị hoá ngày càng phát triển như hiện nay.
  • Với mục tiêu sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, nhằm góp phần chung tay xây dựng một môi trường xanh.
  • Đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất cát nghiền theo tiêu chuẩn Quốc Gia TCVN 9205 : 2012 – thay thế cát tự nhiên với công suất 230.000 m3/năm nhằm cung cấp sản phẩm chất lượng cao cho thị trường vật liệu xây dựng của địa phương.
  • Sử dụng hiệu quả nguồn quỹ đất được giao.
  • Giải quyết việc làm cho người dân trong vùng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

III. Quy mô đầu tư của dự án.

Đầu tư đồng bộ dây chuyền sản xuất cát nghiền theo tiêu chuẩn Quốc Gia TCVN 9205 : 2012 – thay thế cát tự nhiên với công suất 60 m3/h nhằm cung cấp sản phẩm chất lượng cao cho thị trường vật liệu xây dựng của địa phương.

IV. Tổng vốn đầu tư và nguồn vốn của dự án.

Bảng tổng mức đầu tư của dự án

STT Nội dung Thành tiền trước thuế (1.000 đồng) Thuế VAT Thành tiền sau thuế (1.000 đồng)
A Xây dựng 26.517.800 2.651.780 29.169.580
B Thiết bị 11.520.000 1.152.000 12.672.000
C Chi phí quản lý dự án  1.042.616  104.262  1.146.878
D Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng  2.581.123  258.112  2.839.236
E Chi phí khác 429.351 42.935 472.286
F Chi phí đền bù và giải phóng mặt bằng  10.532.700    10.532.700
I Dự phòng phí  4.209.089  420.909  4.629.998
Tổng cộng  56.832.680 4.629.998  61.462.678

V. Các thông số tài chính của dự án.

3.1. Kế hoạch hoàn trả vốn vay.

Kết thúc năm đầu tiên phải tiến hành trả lãi vay giải ngân năm nhất và từ năm thứ 2 trả nợ gốc thời gian trả nợ trong vòng 15 năm của dự án, trung bình mỗi năm trả 4,5 tỷ đồng. Theo phân tích khả năng trả nợ của dự án (phụ lục tính toán kèm theo) cho thấy, khả năng trả được nợ là rất cao, trung bình dự án có khả năng trả được nợ, trung bình khoảng trên 665% trả được nợ.

3.2. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.

Khả năng hoàn vốn giản đơn: Dự án sẽ sử dụng nguồn thu nhập sau thuế và khấu hao cơ bản của dự án để hoàn trả vốn vay.

KN hoàn vốn = (LN sau thuế + khấu hao)/Vốn đầu tư.

Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 11,86 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 11,86 đồng thu nhập cho cả vòng đời dự án 50 năm. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.

Thời gian hoàn vốn giản đơn (T): Theo (Bảng phụ lục tính toán) ta nhận thấy đến năm thứ 7 đã thu hồi được vốn và có dư, do đó cần xác định số tháng của năm thứ 7 để xác định được thời gian hoàn vốn chính xác.

Số tháng = Số vốn đầu tư còn phải thu hồi/thu nhập bình quân năm có dư.

Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 6 năm 10 tháng kể từ ngày hoạt động.

3.3. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 2,89 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 2,89 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Tp) (hệ số chiết khấu 7,93%).

Theo bảng phân tích cho thấy đến năm thứ 9 đã hoàn được vốn và có dư. Do đó ta cần xác định số tháng cần thiết của năm thứ 9.

Kết quả tính toán: Tp = 8 năm 3 tháng tính từ ngày hoạt động.

3.4. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).

Hệ số chiết khấu mong muốn 7,93%/năm.

Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 107.621.257.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 20 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 107.621.257.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.

3.5. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).

Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 21,62% > 7,93% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời cao.

TRÊN ĐÂY LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN. QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU CẦN TƯ VẤN CHI TIẾT. XIN VUI LÒNG GỌI VÀO SỐ 0908 551 477 ĐỂ ĐƯỢC LẬP DỰ ÁN Á CHÂU TƯ VẤN CỤ THỂ.