Đầu tư xây dựng cầu Định Bình theo hình thức hợp đồng BOT

Phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn là điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững. Kinh nghiệm cho thấy không một nước Châu Á phát triển nào đã có thể tăng trưởng nhanh mà không xây dựng trước hết một nền móng kinh tế xã hội phát triển vững vàng tại nông thôn. Ở Việt Nam, tài nguyên không nhiều, với diện tích bình quân đầu người ít hơn 1/10 ha. Diện tích rừng đã thu hẹp, do sức ép của dân số tăng nhanh. Một điều đáng quan tâm gần 75% tổng số lao động Việt Nam làm việc trong khu vực nông nghiệp và lâm nghiệp, và khoảng 80% dân cư đang sống tại nông thôn. Theo Tổng cục Thống kê 25,6% nông hộ thuộc diện nghèo và 10% rất nghèo. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng năng xuất lao động ở nông thôn cực kỳ thấp, sản xuất hàng hóa chậm phát triển với cơ cấu manh mún, phân tán. Tỷ giá giữa hàng nông sản và hàng công nghiệp bất lợi cho nông dân và ít khuyến khích tiêu dùng ở khu vực nông thôn, vì sản xuất nông sản của nông dân ít hiệu quả, do vậy không có điều kiện tái đầu tư, không có điều kiện mở rộng quỹ tiêu dùng mà sức mua của thị trường nông thôn vẫn chiếm từ 60 à 65% tổng quỹ mua của thị trường toàn quốc. Buộc người nông dân ít quan tâm đến cải tiến công cụ, nâng cao kỹ thuật để phát triển nghề nghiệp. Họ chưa dám chấp nhận rủi ro và mạnh dạn kinh doanh, đại bộ phận giữ nghề nông là chính còn các nghề thủ công, dịch vụ, kinh doanh… là nghề phụ.

Qua điều tra, hầu hết các vùng nghèo khó thật sự đều có đặc điểm chung là kết cấu hạ tầng yếu kém. Không có đường sá chi phí vận chuyển vật tư, nông sản rất cao, buộc người dân sản xuất nhỏ. Kết quả các vùng là nông thôn nghèo bị kẹt do thu nhập thấp không có điều kiện chuyên môn hóa và nâng cao học vấn, ít có nguồn thông tin cần thiết, không có khả năng tạo vốn để cải thiện cuộc sống và đổi mới công nghệ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Theo kinh nghiệm của các nước ASEAN trong nhiều thập niên qua, số công ăn việc làm tại thành phố chỉ tăng tới mức 5% năm, nếu không có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn, dân nghèo nông thôn khó có thể mong đợi một sự cải thiện nào đó về kinh tế. Khi dân số nông thôn không ngừng tăng, số lao động dư thừa sẽ đổ xô về thành phố tìm cuộc sống ấm no hơn. Thực tế đã xảy ra việc di dân tự do, với những khu nhà ổ chuột, ô nhiễm, tệ nạn xã hội cao… Đây không phải là mô hình phát triển cho chúng ta.

Đảng và Nhà nước đã khởi xướng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn. Chính phủ đã đề ra chương trình xóa đói giảm nghèo, Bộ GTVT đã nhiều năm hỗ trợ vốn, kỹ thuật và có chính sách hữu hiệu cho việc phát triển kết cấu hạ tầng GTVT.

Trong nhiều năm qua với chính sách đổi mới nông nghiệp phát triển ổn định và tương đối toàn diện với nhịp độ tăng trưởng liên tục 5% GDP. Muốn phát triển kinh tế và ổn định xã hội phải phát triển nông thôn, lấy sản xuất nông nghiệp kết hợp với xuất khẩu làm mặt trận hàng đầu vì nó có tác dụng làm cho tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế khởi sắc. Tuy hiện nay nông nghiệp chỉ chiếm 36% thu nhập quốc dân. Ở các nước phát triển thông thường nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 5 à 6%.

Nông thôn Việt Nam chiếm tới 90% diện tích và 80% dân số cả nước là lực lượng sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm chung của cả nước.

  • Trong cơ chế thị trường, hoạt động của nền kinh tế hàng hóa khu vực nông thôn rộng lớn không thể thiếu các cơ sở hệ thống hạ tầng, đặc biệt là giao thông nông thôn (GTNT).
  • Ngoài ý nghĩa kinh tế, phát triển giao thông nông thôn mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, từng bước hình thành nông thôn văn minh và hiện đại.
  • Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến phát triển giao thông nông thôn, coi đây là chiến lược để thực hiện thành công chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Phát triển giao thông nông thôn đòi hỏi nguồn kinh phí khá lớn, ngân sách Nhà nước không thể cung cấp toàn bộ mà phải thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Nhiều chương trình phát triển giao thông nông thôn đã được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau (dự án WB1, các tổ chức viện trợ, các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn, nhân dân và địa phương cùng làm, địa phương kết hợp với Trung ương,…). Bộ Giao thông Vận tải đã và đang triển khai dự án WB2,WB3, … Nhà nước đang huy động mọi nguồn lực trong nhân dân cùng tham gia làm giao thông nông thôn.

Trong những năm vừa qua, giao thông nông thôn đã đóng một vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế – xã hội nông thôn. Ngoài phục vụ phát triển kinh tế, giao thông nông thôn phát triển còn là nguồn động lực khích lệ tinh thần yêu nước, tạo niềm tin phấn khởi của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, cùng với điều kiện thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp văn minh hài hòa cho vùng nông thôn,…Mặt khác, giao thông nông thôn đã khẳng định là vai trò tiên phong, làm tiền đề để phát triển cho các ngành nghề khác trong vùng nông thôn.

Nguồn vốn ngân sách có hạn, chính vì vậy việc đầu tư khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, với việc chung tay đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn, nhằm góp phần phát triển kinh tế nông thôn của địa phương. Công ty chúng tôi phối hợp với Tư vấn Lập dự án Á Châu tiến hành nghiên cứu và lập dự án “Đầu tư xây dựng cầu Định Bình theo hình thức hợp đồng BOT” kính trình các cơ quan, ban ngành cùng tổ chức tín dụng,… có liên quan xem xét và chấp thuận chủ trương đầu tư và hạn mức tín dụng của dự án, với các nội dung thể hiện chi tiết trong dự án.

I. Mục tiêu cụ thể.

  • Đầu tư hoàn chỉnh và đồng bộ cầu với tải trọng 21 tấn, kết nối đường bê tông hiện hữu 2 bên bờ kênh, nối từ đường liên xã Định Bình với Quốc Lộ 1, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá.
  • Phục vụ nhu cầu giao thông, sinh hoạt của nhân dân trong xã và các xã trong vùng.
  • Giảm áp lực lưu lượng giao thông, tạo điều kiện thúc đẩy giao thương giữa các xã phường với nhau.

II. Qui mô đầu tư xây dựng.

  • Chiều dài cầu dự kiến: 60 m;
  • Chiều rộng cầu: 12 m (đối với làn xe chạy)
  • Nhịp dẫn và nhịp chính bằng BTCT.
  • Tĩnh không thông thuyền dự kiến: 5m;
  • Chiều rộng khoang thông thuyền dự kiến: >25m;
  • Tải trọng cầu thiết kế: 21 tấn; (H21)
STT Nội dung Thành tiền (1.000 đồng)
I Xây dựng 45.124.000
1 Cầu 30.240.000
2 Đường dẫn 7.200.000
3 Trạm thu phí 384.000
4 Văn phòng điều hành 1.500.000
5 Hệ thống cấp điện tổng thể 3.000.000
6 Hệ thống cấp nước khu điều hành 500.000
7 Hệ thống chiếu sáng công cộng 2.000.000
8 Hệ thống thông tin liên lạc 300.000
II Thiết bị 5.950.000
1 Thiết bị thu phí không dừng 4.000.000
2 Bàn ghế và máy tính nhân viên 500.000
3 Xe cứu hộ 1.200.000
4 Thiết bị văn phòng điều hành  250.000
III Chi phí quản lý dự án 1.152.559
IV Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 9.849.615
1 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi  133.907
2 Chi phí lập báo cáo nghiên cứu khả thi  263.598
3 Chi phí thiết kế bản vẽ thi công  554.960
4 Chi phí thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi  58.843
5 Chi phí thẩm tra thiết kế xây dựng  55.582
6 Chi phí thẩm tra dự toán  52.693
7 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu thi công xây dựng  79.751
8 Chi phí lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu mua sắm vật tư, TB  15.530
9 Chi phí giám sát thi công xây dựng 1.109.577
10 Chi phí giám sát lắp đặt thiết bị  40.282
11 Chi phí tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường  210.000
12 Chi phí giải phóng mặt bằng 3.000.000
13 Lãi vay trong giai đoạn XDCB 4.274.894
V Dự phòng phí 6.207.617
Tổng cộng 68.283.792

IV. Hiệu quả về mặt kinh tế của dự án.

1. Tổng mức đầu tư – nguồn vốn.

Tổng mức đầu tư: 68.283.792.000 đồng. Trong đó:

  • Vốn tự có : 20.784.972.000 đồng.
  • Vốn vay tín dụng : 47.498.820.000 đồng.

2. Các thông số tài chính của dự án.

2.1. Kế hoạch hoàn trả vốn vay.

Kết thúc năm đầu tiên phải tiến hành trả lãi vay giải ngân năm nhất và từ năm thứ 2 trả nợ gốc thời gian trả nợ trong vòng 10 năm của dự án, trung bình mỗi năm trả 5,7 tỷ đồng. Theo phân tích khả năng trả nợ của dự án (phụ lục tính toán kèm theo) cho thấy, khả năng trả được nợ là cao, trung bình dự án có khả năng trả được nợ, trung bình khoảng trên 128% trả được nợ.

2.2. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn giản đơn.

Khả năng hoàn vốn giản đơn: Dự án sẽ sử dụng nguồn thu nhập sau thuế và khấu hao cơ bản của dự án để hoàn trả vốn vay.

KN hoàn vốn = (LN sau thuế + khấu hao)/Vốn đầu tư.

Theo phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án (phần phụ lục) thì chỉ số hoàn vốn của dự án là 5,98 lần, chứng tỏ rằng cứ 1 đồng vốn bỏ ra sẽ được đảm bảo bằng 5,98 đồng thu nhập. Dự án có đủ khả năng tạo vốn cao để thực hiện việc hoàn vốn.

Thời gian hoàn vốn giản đơn (T): Theo (Bảng phụ lục tính toán) ta nhận thấy đến năm thứ 13 đã thu hồi được vốn và có dư, do đó cần xác định số tháng của năm thứ 13 để xác định được thời gian hoàn vốn chính xác.

Số tháng = Số vốn đầu tư còn phải thu hồi/thu nhập bình quân năm có dư.

Như vậy thời gian hoàn vốn của dự án là 12 năm 1 tháng kể từ ngày hoạt động.

2.3. Khả năng hoàn vốn và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

Khả năng hoàn vốn và thời điểm hoàn vốn được phân tích cụ thể ở bảng phụ lục tính toán của dự án. Như vậy PIp = 1,24 cho ta thấy, cứ 1 đồng vốn bỏ ra đầu tư sẽ được đảm bảo bằng 1,24 đồng thu nhập cùng quy về hiện giá, chứng tỏ dự án có đủ khả năng tạo vốn để hoàn trả vốn.

Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (Tp) (hệ số chiết khấu 8,09%).

Theo bảng phân tích cho thấy đến năm thứ 25 đã hoàn được vốn và có dư. Do đó ta cần xác định số tháng cần thiết của năm thứ 25.

Kết quả tính toán: Tp = 24 năm 8 tháng tính từ ngày hoạt động.

2.4. Phân tích theo phương pháp hiện giá thuần (NPV).

Hệ số chiết khấu mong muốn 8,09%/năm.

Theo bảng phụ lục tính toán NPV = 15.537.214.000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 20 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 15.537.214.000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.

2.5. Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).

Theo phân tích được thể hiện trong bảng phân tích của phụ lục tính toán cho thấy IRR = 9,74% > 8,09% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời.

TRÊN ĐÂY LÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN. QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU CẦN TƯ VẤN CHI TIẾT. XIN VUI LÒNG GỌI VÀO SỐ 0908551477 ĐỂ ĐƯỢC LẬP DỰ ÁN Á CHÂU TƯ VẤN CỤ THỂ.

lapduan.net